Gặp nguy nan,
sao không đánh thức Ngài dậy?
Trong cuộc đời, không ai không phải đối phó
với những lúc gặp «phong ba bão tố cuộc
đời», những lúc dường như thất vọng vì biết bao khó khăn ập tới mà không biết
đường nào giải quyết, thậm chí có lúc nguy hiểm đến cả mạng sống. Những lúc ấy, nhiều khi không biết cậy nhờ vào ai, không biết nhờ ai giúp đỡ.
Trong Tin Mừng, cũng có lúc các
môn đệ Đức Giêsu cũng gặp một trường hợp tương tự được thánh sử Máccô tường
thuật trong Mc 4,35-41: Các môn đệ Đức Giêsu đang cùng với Ngài trên thuyền
giữa biển hồ, thì bỗng «một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi
thuyền đầy nước».
Giữa lúc nguy hiểm chết người như vậy, thì «Ðức Giêsu đang ở đàng lái, Ngài dựa đầu vào
chiếc gối mà ngủ»,
chẳng biết gì đến các môn đệ đang cuống cuồng lên vì thấy quá nguy hiểm. Thế là bất chấp thầy mình đang ngủ, «các môn
đệ đánh thức Ngài dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng
lo gì sao?”». Và
«Ngài thức
dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!” Gió liền tắt, và biển
lặng như tờ». Sau
đó, thay vì xin lỗi các môn đệ vì mình vẫ ngủ say để mặc các môn đệ mình phải đối phó với nguy hiểm, thì Ngài
lại trách các ông: «Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?». Thử hỏi Ngài trách như thế có
hợp lý không?
Nếu Đức Giêsu là một người bình
thường như chúng ta, thì thái độ có vẻ vô tâm của Ngài như thế thật đáng trách. Nhưng
Ngài không phải là người thường như chúng ta, các môn đệ trước đó đã từng chứng
kiến quyền phép của Ngài chữa lành một người bị quỷ ám (Mc 1:23-27), chữa lành «nhiều kẻ ốm đau
mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ» (Mc 1:34), chữa người phong hủi (Mc 1:40-42), chữa người
bại liệt (Mc 2:5-12), v.v...
Câu chuyện Đức Giêsu ngủ trong thuyền của các môn đệ giữa cơn phong ba bão táp (x. Mc 4,35-41) giúp tôi phân biệt được hai tình trạng khác nhau giữa một người ý thức và không ý thức về sự kết hiệp vốn có giữa Thiên Chúa và bản thân mỗi người. Khi Ngài ngủ trong thuyền thì Ngài vẫn hiện diện bên các môn đệ, nhưng lúc ấy Ngài hiện diện mà như không hiện diện. Ngài chẳng giúp ích gì cho các ông giữa cơn phong ba bão táp đầy nguy hiểm trên biển. Các ông đã đối phó với phong ba như thể không có Ngài. Nhưng khi các môn đệ đánh thức Ngài dậy, thì Ngài làm cho sóng gió lặng yên. Chỉ lúc đó Ngài mới hiện diện đúng với bản chất một Thiên Chúa đầy quyền năng của Ngài.
Không ý thức về sự hiện hữu của Thiên Chúa
trong ta, trong chính sự hiện hữu của ta sẽ làm cho sự hiện hữu ấy trở nên thụ
động, hiện hữu mà như không hiện hữu, tương tự như sự hiện hữu của Đức Giêsu
đang ngủ trong thuyền của các môn đệ giữa phong ba. Ý thức thường xuyên về sự
hiện hữu và quyền năng vô biên của hiện hữu ấy chính là làm cho sự hiện hữu của
Ngài trong ta trở thành năng động. Chỉ lúc ấy ta mới thấy quyền năng và sức
mạnh của Thiên Chúa trở thành cụ thể và thực tế nơi ta, có thể biến đổi ta nên
một con người mới mạnh mẽ, có thể vượt qua dễ dàng mọi sóng gió cuộc đời. Ý
thức thường xuyên như vậy, sức mạnh của Thiên Chúa sẽ dần dần trở thành sức
mạnh của chính bản thân ta.
Viết tới đây, tôi nghĩ đến một hình ảnh tương
tự minh họa cho sự việc trên. Một người nọ có một kho vàng rất lớn ở trong nhà
– được chôn dưới nền nhà hoặc dấu kín trong một bức tượng nào đó – mà cha ông
để lại, nhưng lại không biết mình có. Mặc dù người ấy rất giàu một cách vô ý
thức, nhưng trong đời sống thực tế người ấy rất nghèo, thậm chí thiếu thốn cùng
cực. Vì thế, cuộc sống của người ấy vô cùng vất vả, phải xin xỏ hay năn nỉ sự
giúp đỡ của người khác. Khi biết được mình có kho tàng ấy, lập tức người ấy đào
lên và trở nên giàu có một cách ý thức. Chỉ lúc ấy kho vàng kia mới bắt đầu trở
nên hữu ích cho người ấy.
Một minh họa khác: có thời tôi rất khốn khổ vì
máy vi tính của tôi bị nhiễm virus khiến máy chạy chậm kinh khủng. Tôi muốn
diệt virus và đề phòng virus nhưng không biết làm sao. Một hôm, anh bạn của tôi
đến chơi, nghe tôi than phiền, anh vào máy của tôi và khám phá ra trong máy của
tôi đã cài sẵn một chương trình diệt và phòng chống virus tối tân nhất. Nhưng
vì tôi không biết “chạy” (run) hay “kích hoạt” (activate) chương trình này, nên
dù nó có sẵn trong máy nhưng chẳng hề hoạt động chút nào. Từ khi anh bạn làm
cho chương trình ấy tự động chạy ngay khi khởi động máy, thì máy vi tính của
tôi lại hoạt động rất nhanh, hữu hiệu và không còn một con virus nào tồn tại
được trong máy nữa. Hóa ra máy của tôi đã có sẵn một chương trình phòng và diệt
virus rất tuyệt vời mà tôi không biết, không ý thức rằng mình có để kích hoạt
nó. Chính vì vậy mà tôi phải khốn khổ trong thời gian chưa ý thức ấy.
Cũng vậy, chúng ta có Thiên Chúa – một kho
tàng sức mạnh, trí tuệ, tình yêu, sự sống – ở ngay trong bản thân mình, thậm
chí ngay trong bản thể mình, trong chính sự hiện hữu của mình, thế mà ta chẳng
biết, chẳng ý thức điều đó. Vì thế, Thiên Chúa ấy đã chẳng đem lại sức mạnh, sự
khôn ngoan, tình yêu, sức sống và bình an hạnh phúc cho ta bao nhiêu. Ta luôn
luôn cảm thấy mình yếu đuối, hèn hạ, ích kỷ, vụ lợi, bất an, và cứ phải tìm
cách bù đắp sự hèn kém ấy bằng cách chiếm hữu cho bằng được những thứ ngoài
mình – của cải, danh vọng, quyền lực, lạc thú, tiện nghi – để có cảm tưởng mình
có sức mạnh, có phẩm giá, được bình an. Sức mạnh, phẩm giá, bình an ấy là thứ
gì ở ngoài mình, do người khác ban cho mình, và có thể mất bất cứ lúc nào. Còn
sức mạnh, phẩm giá và sự bình an hạnh phúc của một người ý thức được Thiên Chúa
ở với mình, ở ngay trong bản thể mình, là những thứ nội tại trong bản thân
mình, do chính Thiên Chúa ban. Thứ bình an hạnh phúc này không ai có thể ban
cho ta hay lấy mất của ta được (x. Ga 16,22): «Thầy ban cho anh em bình an của
Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian» (Ga 14,27). Chúng ta thường
xin xỏ Thiên Chúa và người khác ban cho mình những thứ bên ngoài ấy đang khi
bên trong chúng ta đã có sẵn tất cả những thứ quý giá ấy – quý giá nhất là
chính Thiên Chúa – mà chúng ta không hề biết, nên những thứ quý giá có sẵn ấy
chẳng đem lại ích lợi gì cho ta.
Sức mạnh và tình yêu của Thiên Chúa chỉ trở
thành sức mạnh và tình yêu của ta khi ta để sự hiện hữu của Ngài tràn ngập con
người ta, và không còn chỗ cho «cái tôi» của ta nữa. «Cái tôi» của ta càng nhỏ
bé đi, càng tiêu tan đi, thì «cái tôi» của Ngài ở trong ta càng lớn lên cùng
với sức mạnh của Ngài: «Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi» (Ga
3,30). Làm cho «cái tôi» của mình nhỏ bé đi chính là thực hiện việc «từ bỏ
chính mình» (Mt 16,24). Chừng nào ta còn coi «cái tôi» của mình là quan trọng,
còn muốn được nổi bật, được ca tụng, đề cao thì chỉ làm cho «cái tôi» của Ngài
cùng với sức mạnh của Ngài ở trong ta mãi nhỏ bé, không lớn lên được. Người nào
hoàn toàn «từ bỏ chính mình», trong cầu nguyện cũng như trong đời sống thực tế,
người ấy tự nhiên sẽ tràn đầy Thiên Chúa và sức mạnh của Ngài.
Rất có thể trong tâm hồn ta, Đức Kitô đang bị
chôn vùi trong ngôi mộ của sự quên lãng, như thể Ngài chẳng là gì và chẳng ảnh
hưởng gì trên đời sống thường ngày của ta, như thể Ngài đang ngủ yên trong tâm
hồn ta, không tác động gì ích lợi cho ta, giúp ta chống lại với những giông tố
cuộc đời. Ngài dường như đang ngủ thật say trong tâm hồn ta như xưa đã ngủ say
trên thuyền bỏ mặc cho các tông đồ phải lo lắng chèo chống, chiến đấu vất vả
với giông tố sóng nước, tưởng chừng như chết đến nơi (xem Mc 4,35-41). Điều
sáng suốt mà các tông đồ lúc đó đã làm, là đánh thức Thầy mình dậy. Và một khi
Ngài thức dậy, Ngài ra lệnh cho sóng và gió phải im, và tất cả đều tuân lệnh
Ngài.
Hình ảnh Đức Kitô ngủ thật say trong thuyền,
hay hình ảnh Ngài nằm trong mộ đá có thể là hình ảnh trung thực diễn tả tình
trạng của Ngài đối với tâm hồn ta lúc này. Nếu để Ngài ngủ hay chết, thì Ngài
chẳng làm gì được cho ta. Phải đánh thức Ngài dậy, phải làm cho Ngài phục sinh
trong tâm hồn ta. Nói cách khác, là phải làm cho Ngài luôn luôn sống động trong
ý thức của ta. Chỉ như thế, chúng ta mới thấy được cánh tay uy dũng vạn năng
của Ngài ảnh hưởng thật sự trên cuộc đời ta, giúp ta biến đổi tất cả những
nghịch cảnh thành thuận cảnh, bất lợi thành thuận lợi, và biến đổi chính bản
thân ta một cách hữu hiệu và nhanh chóng.
Chúng ta phải đánh thức hay làm cho Ngài sống
lại bằng cách thường xuyên ý thức sự hiện diện của Ngài trong ta. Nghĩa là phải
luôn luôn ý thức rằng Chúa là nguồn sức mạnh, nguồn tình yêu, nguồn trí tuệ của
ta. Nếu ta tin tưởng rằng nguồn thần lực đó đang ở trong ta và sẵn sàng hoạt
động, thì lập tức nguồn sức mạnh ấy sẽ hành động thật sự. Điều quan trọng là ta
có dám tin như thế hay không. Niềm tin như thế cần phải được tập luyện và củng
cố hằng ngày. Nếu chúng ta thường xuyên tự nhủ, và ngày nào cũng tự nhủ rằng:
«Ngài là sức mạnh của tôi», thì sức mạnh ấy sẽ thành hiện thực nơi bản thân ta,
lúc đầu chưa rõ ràng, và có thể yếu ớt, nhưng sẽ càng ngày càng rõ rệt và mạnh
mẽ lên theo thời gian.
Làm cho Ngài sống lại trong ta, là để Ngài
chiếm trọn bầu ý thức tâm linh của ta, để Ngài hoàn toàn làm chủ đời ta, để
Ngài hoàn toàn tự do hoạt động trong ta, không bị cản trở bởi ý riêng của ta.
Ngài chỉ có thể lớn lên khi cái tôi của ta nhỏ đi, Ngài chỉ sống khi cái tôi
ích kỷ của ta chết đi, và thánh ý của Ngài chỉ được thực hiện khi ta tự ý coi
nhẹ ý riêng mình.
Làm cho Ngài sống lại trong ta, chính là gặp
gỡ Ngài ngay trong chính bản thân ta, đó chính là bản chất của cầu nguyện, là
lương thực nuôi dưỡng tâm linh ta. Cầu nguyện hay gặp gỡ Thiên Chúa chính là
điều quan trọng nhất trong đời sống nội tâm của người Kitô hữu. Nhưng nhiều
Kitô hữu chưa hiểu đúng bản chất của cầu nguyện hay sự gặp gỡ Thiên Chúa. Chúng
ta hãy đi sâu vào vấn đề này.
